Danh mục: Tin tức

  • Diễn đàn Quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số: Định hình chiến lược cho giai đoạn mới

    Diễn đàn Quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số: Định hình chiến lược cho giai đoạn mới

    Dự kiến ngày 20/12, tại Hà Nội, Bộ KH&CN sẽ chủ trì tổ chức Diễn đàn Quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số lần thứ III với chủ đề “Phát triển kinh tế số, xã hội số toàn diện, bao trùm – Đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026–2030”.

    Diễn đàn có sự tham gia của lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp công nghệ, các viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia trong nước và quốc tế cùng nhiều tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam.

    Không gian đối thoại chính sách cho chuyển đổi số quốc gia

    Diễn đàn Quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số là sự kiện thường niên do Bộ KH&CN chủ trì tổ chức, nhằm tạo không gian đối thoại chính sách, chia sẻ kinh nghiệm, thúc đẩy các sáng kiến đổi mới sáng tạo trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

    Thông qua Diễn đàn, các chủ thể từ khu vực công đến khu vực tư nhân, từ cơ quan hoạch định chính sách đến doanh nghiệp, nhà khoa học có điều kiện cùng trao đổi, kết nối và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế số, xã hội số gắn với yêu cầu thực tiễn của đất nước.

    Sau 2 kỳ tổ chức thành công, Diễn đàn bước sang năm thứ III với nhiều kỳ vọng mới. Năm 2023, Diễn đàn lần đầu tiên được tổ chức với chủ đề “Mang nền tảng số đến hộ gia đình”, đặt nền móng cho việc đưa công nghệ số vào đời sống thường ngày, tạo lực đẩy ban đầu cho tiến trình chuyển đổi số toàn dân, toàn diện.

    Sang năm thứ II, Diễn đàn lựa chọn chủ đề “Sáng tạo ứng dụng công nghệ số vào các ngành, lĩnh vực để phát triển kinh tế số và nâng cao năng suất lao động”, phản ánh giai đoạn tăng tốc triển khai, trọng tâm là đưa các sáng tạo công nghệ số vào dòng chảy của nền kinh tế, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của các ngành, lĩnh vực.

    Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi là năm tổng kết thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2021–2025, đồng thời cũng là thời điểm toàn bộ nỗ lực chuyển đổi số quốc gia trong 5 năm đầu tiên bước vào giai đoạn đánh giá, rút kinh nghiệm và định hình các định hướng chiến lược cho chu kỳ phát triển tiếp theo.

    Trên cơ sở đó, Diễn đàn Quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số lần thứ III được tổ chức với chủ đề hướng tới phát triển toàn diện, bao trùm và bền vững, gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn 2026–2030.

    Sự kiện được kỳ vọng sẽ trở thành diễn đàn quan trọng để các cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và địa phương trao đổi, thảo luận sâu về các giải pháp thúc đẩy kinh tế số và xã hội số, khai thác hiệu quả dư địa tăng trưởng mới, đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực và mô hình triển khai trong giai đoạn tăng tốc tiếp theo.

    Các hoạt động chính của Diễn đàn năm nay tập trung cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình triển khai phát triển kinh tế số và xã hội số trong giai đoạn 2021–2025. Trên cơ sở đó, Diễn đàn sẽ chỉ ra những điểm sáng, điểm nghẽn, dư địa tăng trưởng cũng như không gian chính sách mới, làm cơ sở đề xuất các giải pháp đột phá cho giai đoạn sau.

    Nội dung thảo luận tại Diễn đàn xoay quanh ba nhóm vấn đề trọng tâm: Đánh giá tổng quan tình hình phát triển kinh tế số, xã hội số của Việt Nam giai đoạn 2021–2025; chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, các mô hình thành công trong triển khai chuyển đổi số tại các bộ, ngành, địa phương và thảo luận chuyên sâu về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phát triển kinh tế số và xã hội số.

    Một trong những điểm nhấn đáng chú ý tại Diễn đàn năm nay là lễ phát động Chương trình “Học từ làm việc thực tế” – sáng kiến mang tính hệ thống, dựa trên mô hình hợp tác ba nhà: nhà nước – nhà trường – nhà doanh nghiệp. Chương trình nhằm thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực kinh tế số cho các ngành, lĩnh vực trọng điểm, góp phần giải quyết bài toán nhân lực chất lượng cao trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

     

  • Đẩy mạnh chống hàng giả trên sàn thương mại điện tử

    Đẩy mạnh chống hàng giả trên sàn thương mại điện tử

    (Chinhphu.vn) – Từ ngày 1/1/2026, các quy định về quản lý chất lượng hàng hóa sẽ được triển khai đồng bộ, theo hướng văn minh, minh bạch hơn. Điều này vừa giúp doanh nghiệp bảo vệ sản phẩm chính hãng, ngăn chặn gian lận về chất lượng, vừa góp phần đơn giản hóa giám sát, kiểm tra của cơ quan chức năng.

    Theo ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), trong thương mại truyền thống, các yếu tố nhận diện khá rõ ràng là người bán có địa điểm cụ thể, người mua trực tiếp tiếp xúc, hàng hóa dễ kiểm chứng và giao dịch, thanh toán minh bạch.

    Tuy nhiên, trong môi trường mua sắm trực tuyến, hầu hết những yếu tố đó đều không rõ ràng. Đặc biệt, trên các nền tảng mạng xã hội và sàn thương mại điện tử, việc xác định danh tính người bán và kiểm soát chất lượng sản phẩm là một thách thức lớn. Chính sự thiếu minh bạch này đã tạo kẽ hở cho hàng hóa kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái, hàng lậu len lỏi vào thị trường, gây rủi ro cho người tiêu dùng.

    Không dừng lại ở giao dịch trong nước, nhiều hoạt động mua bán còn diễn ra trên các nền tảng nước ngoài, được vận hành theo hệ thống và quy định của doanh nghiệp quốc tế. Trong những trường hợp này, việc phát hiện và xử lý vi phạm càng khó khăn hơn. Ngay cả khi đã nhận diện được dấu hiệu vi phạm, cơ quan chức năng vẫn gặp trở ngại lớn trong khâu xác minh, đặc biệt khi đối tượng liên quan không hợp tác. Đây chính là một trong những thách thức lớn nhất của hoạt động mua sắm trực tuyến hiện nay.

    Còn theo đại diện Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), bên cạnh mặt tích cực, thương mại điện tử cũng bộc lộ những mặt trái rõ rệt. Đây chính là bài toán lớn thứ hai đặt ra cho việc quản lý. Trước thực tế đó, Nhà nước đã và đang từng bước hoàn thiện khung pháp lý nhằm quản lý hoạt động thương mại điện tử và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên môi trường số.

    Các quy định mới đã được ban hành, có hiệu lực theo lộ trình cụ thể, với những văn bản pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật nhằm điều chỉnh trách nhiệm của từng chủ thể tham gia, từ người bán, các nền tảng số trung gian cho đến các sàn thương mại điện tử.

    Trước đây, đã có những quy định nhất định với các sàn thương mại điện tử và nền tảng trung gian, nhưng chưa đầy đủ và chưa thực sự chi tiết. Cơ sở pháp lý vẫn còn những khoảng trống khiến việc quản lý và xử lý vi phạm gặp nhiều khó khăn. Thời gian tới, quy định sẽ được bổ sung, làm rõ hơn trách nhiệm của từng đối tượng, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên môi trường thương mại điện tử.

    Xây dựng các công cụ quản lý mới

    Ông Trần Hữu Linh cho biết, để ngăn chặn hiệu quả tình trạng hàng giả trên môi trường thương mại điện tử, thời gian qua, Bộ Công Thương đã tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để theo kịp sự phát triển của thương mại điện tử, tránh tình trạng chính sách luôn đi sau thực tiễn.

    Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn nằm ở khâu thực thi pháp luật. Muốn xử lý hiệu quả các sai phạm trên môi trường số, cơ quan quản lý phải có các công cụ hiện đại, phù hợp. Bộ Công Thương đang triển khai xây dựng các công cụ quản lý mới; trong đó, quy định một số nhóm hàng hóa bắt buộc phải khai báo và truy xuất nguồn gốc, đặc biệt là mặt hàng có rủi ro cao; nhóm hàng hóa khác khuyến khích thực hiện truy xuất.

    Từ ngày 1/1/2026, các quy định về quản lý chất lượng hàng hóa sẽ được triển khai đồng bộ, theo hướng văn minh, minh bạch hơn. Điều này vừa giúp doanh nghiệp bảo vệ sản phẩm chính hãng, ngăn chặn gian lận về chất lượng, vừa góp phần đơn giản hóa giám sát, kiểm tra của cơ quan chức năng. Cùng với đó, đang xây dựng các hệ thống cảnh báo sớm đối với các hành vi vi phạm, gian lận trên môi trường thương mại điện tử, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra.

    Theo ông Trần Hữu Linh, thời gian qua, Nhà nước đã rất nỗ lực trong công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, đặc biệt là trên môi trường thương mại điện tử. Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 397/NQ-CP ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đến năm 2030 là lần đầu tiên có một kế hoạch hành động quốc gia mang tính tổng thể, dài hạn, thể hiện cam kết rất mạnh mẽ của Chính phủ trong cuộc chiến chống gian lận thương mại, hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ đến năm 2030.

    Hiện nay, các cơ quan chức năng đang khẩn trương xây dựng kế hoạch hành động để sớm đưa Nghị quyết vào thực tiễn. Nhiều giải pháp được xác định là rất quyết liệt và thiết thực, như mục tiêu xóa bỏ hàng giả, hàng nhái; yêu cầu 100% các sàn thương mại điện tử phải ký cam kết phòng ngừa và chủ động, quyết liệt chống hàng giả; đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi vi phạm.

    Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc kiên quyết xử lý các trường hợp cán bộ, công chức tiếp tay, bao che cho hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, nhất là gian lận trên môi trường thương mại điện tử. Thực tế thời gian qua vẫn còn xảy ra tình trạng bảo kê, tiếp tay cho vi phạm, đây là nội dung sẽ được tập trung chấn chỉnh trong thời gian tới.

     

  • Kiến tạo cấu trúc nền kinh tế số quốc gia thay vì số hóa rời rạc

    Kiến tạo cấu trúc nền kinh tế số quốc gia thay vì số hóa rời rạc

    (Chinhphu.vn) – Tại Diễn đàn quốc gia phát triển Kinh tế số và Xã hội số lần thứ III, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, phát triển kinh tế số và xã hội số của Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ chuyển từ số hóa cái cũ sang kiến tạo không gian phát triển mới, nơi dữ liệu, AI, nền tảng số, doanh nghiệp số và công dân số cùng trở thành động lực tăng trưởng.

    Động lực tăng trưởng mới quan trọng

    Theo Bộ KH&CN, trong thời gian qua, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xã hội số có sự chuyển biến rõ nét về cả nhận thức, tư duy và hành động, lan tỏa đến “mọi nhà, mọi người”.

    Một trong những điểm sáng nổi bật là công tác hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực cho phát triển.

    Giai đoạn 2021-2025, Chính phủ đã trình Quốc hội xem xét, thông qua 28 dự án luật và 1 nghị quyết mang tính đột phá, đồng thời ban hành 91 nghị định hướng dẫn thi hành các luật liên quan, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xã hội số.

    Hạ tầng số tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ cả về năng lực, công nghệ và chất lượng. Việt Nam đã đẩy mạnh triển khai dịch vụ 5G với gần 24.000 trạm được lắp đặt, phủ sóng hầu hết các đô thị, đạt tỷ lệ khoảng 58,9% dân số cả nước. Tốc độ Internet di động tăng tới 50 bậc, đưa Việt Nam năm 2025 vào top 20 thế giới.

    Dự án Trung tâm dữ liệu quốc gia số 1 đã chính thức đi vào vận hành, đồng thời đang nghiên cứu hình thành thêm các trung tâm dữ liệu khác.

    Ba tuyến cáp quang biển và trên đất liền đã được đưa vào khai thác, nâng năng lực kết nối quốc tế lên hơn gấp đôi so với cuối năm 2020. Bên cạnh đó, dự án Internet vệ tinh Starlink cũng đang được tích cực triển khai,

    Trên nền tảng hạ tầng số đó, kinh tế số Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, ngày càng khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng mới quan trọng. Số lượng doanh nghiệp công nghệ số tăng nhanh từ 58.000 doanh nghiệp năm 2020 lên khoảng 80.000 doanh nghiệp vào năm 2025.

    Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghệ số năm 2025 ước đạt 172 tỷ USD, tăng hơn 1,7 lần so với năm 2020. Thương mại điện tử tiếp tục bứt phá, đạt quy mô khoảng 36 tỷ USD năm 2025, tăng gấp 3 lần so với năm 2020, với tốc độ tăng trưởng 22–25%/năm, cao nhất khu vực.

    Thanh toán không dùng tiền mặt đã trở nên phổ cập, lan tỏa đến mọi doanh nghiệp, mọi hộ gia đình và mọi người dân. Đến cuối năm 2025, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt ước gấp 26 lần GDP, với hơn 20,2 tỷ giao dịch mỗi năm.

    Công tác quản lý thuế, hóa đơn điện tử được triển khai quyết liệt, hiệu quả, góp phần quan trọng tăng thu ngân sách nhà nước. Chuyển đổi số cũng được thúc đẩy mạnh mẽ trong các lĩnh vực then chốt như điện, năng lượng, giao thông vận tải.

    Cùng với kinh tế số, xã hội số tại Việt Nam đang phát triển rộng khắp trên tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”. Người dân ngày càng được thụ hưởng nhiều dịch vụ, tiện ích số thiết thực.

    Đơn cử như trong lĩnh vực y tế, 100% cơ sở y tế triển khai khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân; gần 900 bệnh viện triển khai bệnh án điện tử, nhiều dữ liệu y tế được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

    Về an sinh xã hội, việc chi trả trợ cấp qua tài khoản ngân hàng đã được thực hiện cho khoảng 3 triệu người với tổng số tiền trên 40 nghìn tỷ đồng; hơn 17 triệu tài khoản an sinh xã hội đã được tích hợp trên nền tảng VNeID….

    Phát biểu tại Diễn đàn, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, trong bối cảnh hiện nay, kinh tế số và xã hội số không còn là lựa chọn mà là con đường tất yếu, là động lực cốt lõi của tăng trưởng và đổi mới mô hình phát triển.

    Tuy nhiên thách thức đặt ra hiện nay là làm thế nào để kinh tế số và xã hội số thực sự trở thành không gian phát triển mới, chứ không chỉ dừng lại ở việc số hóa mô hình cũ.

    Mặc dù tỉ trọng kinh tế số trong GDP tăng nhanh, nhưng giá trị gia tăng nội địa còn thấp, phụ thuộc nhiều vào các nền tảng xuyên biên giới; nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị số. Vì vậy, theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, giai đoạn tới cần những đổi mới mang tính đột phá, không chỉ “làm nhiều hơn” mà phải “làm khác đi, làm sâu hơn, làm bền vững hơn”.

    Bộ trưởng cho rằng, cần kiến tạo một cấu trúc nền kinh tế số quốc gia thay vì số hóa rời rạc từng lĩnh vực, chuyển từ tiếp cận mỗi ngành một đề án chuyển đổi số sang thiết kế lại cấu trúc nền kinh tế dựa trên các lớp hạ tầng số dùng chung như viễn thông, internet, điện toán, dữ liệu số, AI, nền tảng số và dịch vụ số. Nhà nước phải đóng vai kiến trúc sư trưởng của nền kinh tế số và xã hội số quốc gia, định hình cấu trúc để thị trường vận hành.

    Cùng với đó, cần coi dữ liệu, AI và năng lực tính toán là năng lực sản xuất nền tảng của nền kinh tế số, tương tự như điện, nước, viễn thông. Các nhà mạng thế hệ mới không chỉ cung cấp kết nối mà cung cấp các năng lực số cốt lõi để doanh nghiệp xây dựng sản phẩm dịch vụ và vận hành nền kinh tế. Nhà mạng phải trở thành xương sống của không gian số quốc gia, không chỉ là mạng viễn thông, đó còn là trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, điện toán biên, nền tảng, an toàn an ninh mạng.

    Một hướng đi quan trọng khác là chuyển từ chính phủ điện tử sang nhà nước điều hành dựa trên dữ liệu và mô hình dự báo, qua đó nâng cao chất lượng hoạch định và thực thi chính sách. Đồng thời, phát triển thị trường số quốc gia lấy doanh nghiệp làm trung tâm, tạo cầu và tạo niềm tin cho doanh nghiệp số Việt Nam lớn mạnh từ thị trường nội địa, tiến tới vươn ra toàn cầu.

    Con người làm trung tâm và niềm tin số làm nền tảng

    Đặc biệt, theo Bộ trưởng, xây dựng xã hội số phải lấy con người làm trung tâm và niềm tin số làm nền tảng. Cần phổ cập kỹ năng số, tư duy số, đạo đức số cho toàn xã hội, xây dựng văn hóa số Việt Nam nhân văn, an toàn, sáng tạo và có trách nhiệm. Xã hội số không chỉ là phổ cập công nghệ mà là trao quyền số cho người dân, gắn với niềm tin, đạo đức và văn hóa số.

    Xã hội số không phải là xã hội mà mọi thứ đều được đưa lên môi trường mạng, mà là xã hội trong đó mỗi người dân được trao quyền nhiều hơn nhờ có công nghệ số: Quyền tiếp cận thông tin, quyền tiếp cận dịch vụ công, quyền học tập suốt đời, quyền tham gia quản lý xã hội.

    Trong xã hội số, công dân số không chỉ là người thụ hưởng mà là chủ thể tham gia kiến tạo chính sách; chính quyền không chỉ là cơ quan quản lý mà là nhà cung cấp dịch vụ công dựa trên dữ liệu; cộng đồng số trở thành một không gian xã hội mới song song và gắn kết với không gian vật lý.

    Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, kinh tế số và xã hội số không chỉ là câu chuyện của công nghệ mà là câu chuyện của tái cấu trúc phát triển, tái thiết niềm tin và tái định vị vai trò nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong kỷ nguyên số.

    “Với dữ liệu làm nền tảng, nền tảng số làm động lực, thể chế làm dẫn dắt và con người làm trung tâm, chúng ta có đủ điều kiện để chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng cuộc sống, xã hội”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói.

    Bộ KH&CN cam kết tiếp tục đóng vai trò kiến trúc sư về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp để hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững, bao trùm trong kỷ nguyên số.

  • Bộ luật Lao động 2019 được sửa đổi theo Luật Dân số 2025 có hiệu lực từ 01/7/2026

    Bộ luật Lao động 2019 được sửa đổi theo Luật Dân số 2025 có hiệu lực từ 01/7/2026

    Bài viết sau sẽ có nội dung chi tiết về các quy định mới của Bộ luật Lao động 2019 được sửa đổi theo Luật Dân số 2025 có hiệu lực từ 01/7/2026.

    Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Dân số 2025 (Luật số 113/2025/QH15).

    Bộ luật Lao động 2019 được sửa đổi theo Luật Dân số 2025 có hiệu lực từ 01/7/2026

    Theo đó,tại khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025 (Luật số 113/2025/QH15) sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan đến công tác dân số thì Quốc hội đã sửa đổi quy định về nghỉ thai sản tại Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 như sau:

    – Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.

    Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

    Còn theo quy định hiện hành thì khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 có nội dung như sau:

    “Điều 139. Nghỉ thai sản

    1. Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.

    Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.”

    – Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

    – Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động.

    – Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng nhưng người lao động phải báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

    – Lao động nam khi vợ sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ mang thai hộ và người lao động là người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

    Luật Lao động mới nhất 2025 là luật nào?

    Hiện hành, Luật Lao động mới nhất 2025 là Bộ luật Lao động 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021).

    Bộ luật Lao động 2019 quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.

    Bộ luật Lao động 2019 hiện được sửa đổi, bổ sung bởi

    1. Luật Bảo hiểm xã hội 2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025
    2. Luật Công nghiệp công nghệ số 2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026
    3. Luật Dân số 2025 (Luật số 113/2025/QH15), có hiệu lực từ ngày 01/07/2026

    Ngoài ra thì mới đây Chính phủ cũng đã ban hành 2 Nghị định về phân cấp phân quyền lĩnh vực nội vụ (trong đó có lĩnh vực lao động) là:

    – Nghị định 128/2025/NĐ-CP quy định về phân quyền, phân cấp trong quản lý Nhà nước lĩnh vực nội vụ

    – Nghị định 129/2025/NĐ-CP quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Nội vụ

    Trên đây là bài viết có nội dung về “Bộ luật Lao động 2019 được sửa đổi theo Luật Dân số 2025 có hiệu lực từ 01/7/2026

  • Văn bản hợp nhất Bộ luật Lao động mới nhất 2025

    Văn bản hợp nhất Bộ luật Lao động mới nhất 2025

    Dưới đây là nội dung giới thiệu văn bản hợp nhất Bộ luật Lao động mới nhất 2025 do Văn phòng Quốc hội ban hành.

    Văn bản hợp nhất Bộ luật Lao động mới nhất 2025

    Cụ thể, văn bản hợp nhất Bộ luật Lao động mới nhất 2025 là Văn bản 125/VBHN-VPQH hợp nhất Bộ luật Lao động do Văn phòng Quốc hội ban hành ngày 27/8/2025.

    Theo đó, các văn bản được hợp nhất bao gồm:

    – Luật Công nghiệp công nghệ số 2025 (hiệu lực 01/01/2026);

    – Bộ luật Lao động 2019.

    VBHN Bộ luật Lao động

    Bộ luật Lao động quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.

    Các quyền và nghĩa vụ của người lao động theo quy định hiện nay

    * Người lao động có các quyền sau đây:

    (1) Làm việc; tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp; không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

    (2) Hưởng lương phù hợp với trình độ, kỹ năng nghề trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có hưởng lương và được hưởng phúc lợi tập thể;

    (3) Thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại, thực hiện quy chế dân chủ, thương lượng tập thể với người sử dụng lao động và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;

    (4) Từ chối làm việc nếu có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe trong quá trình thực hiện công việc;

    (5) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

    (6) Đình công;

    (7) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    * Người lao động có các nghĩa vụ sau đây:

    – Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác;

    – Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động; tuân theo sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động;

    – Thực hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động.

    (Điều 5 Bộ luật Lao động 2019)

    Quy định về nghỉ hằng năm (ngày phép trong năm) của người lao động

    (1) Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

    – 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

    – 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;

    – 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

    (2) Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.

    (3) Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.

    (4) Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết. Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

    (5) Khi nghỉ hằng năm mà chưa đến kỳ trả lương, người lao động được tạm ứng tiền lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật Lao động 2019.

    (6) Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.

    (7) Chính phủ quy định chi tiết nội dung trên.

    (Điều 113 Bộ luật Lao động 2019)

  • Lai Châu phát triển nông nghiệp sạch gắn với du lịch cộng đồng – Nâng tầm giá trị bản làng

    Lai Châu phát triển nông nghiệp sạch gắn với du lịch cộng đồng – Nâng tầm giá trị bản làng

    Tây Bắc không chỉ nổi tiếng với cảnh quan hùng vĩ mà còn là cái nôi của nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp độc đáo. Tại Lai Châu, sự kết hợp giữa nông nghiệp sạch và du lịch cộng đồng đã trở thành hướng đi đầy triển vọng, giúp quảng bá văn hóa địa phương, tạo sinh kế mới và thu hút hàng nghìn du khách mỗi năm.Bản Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ, là điểm sáng trong phát triển mô hình nông nghiệp sạch kết hợp du lịch trải nghiệm. Người Mông nơi đây đã chuyển đổi nhiều diện tích đất bạc màu sang trồng hoa lan, trồng rau hữu cơ và nuôi bò địa phương theo hướng an toàn. Du khách đến đây có thể trực tiếp tham gia các hoạt động như thu hoạch rau, chăm sóc vườn lan, hái dược liệu hoặc chế biến các món ăn truyền thống.

    Bên cạnh nguồn thu từ du lịch, việc áp dụng quy trình nông nghiệp sạch giúp chất lượng nông sản đảm bảo an toàn, có thể phân phối cho nhà hàng và khách sạn trong khu vực. Các hộ dân được tập huấn về ghi chép nhật ký sản xuất, quản lý sâu bệnh bằng phương pháp sinh học, và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để làm phân hữu cơ.

    Trong những năm gần đây, mỗi năm bản đón hơn 40.000 lượt khách, tạo thu nhập ổn định cho cộng đồng. Không chỉ phát triển kinh tế, mô hình còn góp phần bảo tồn kiến trúc nhà trình tường, văn hóa chợ phiên và các lễ hội truyền thống của người Mông. Nhiều hộ đã thoát nghèo bền vững nhờ kết hợp cả hai nguồn thu: nông nghiệp và dịch vụ du lịch.

    Mô hình nông nghiệp sạch gắn với du lịch cộng đồng ở Lai Châu là minh chứng rõ nét cho sự sáng tạo của người dân miền núi trong phát triển kinh tế. Đây là hướng đi bền vững, vừa bảo tồn văn hóa bản địa, vừa nâng cao thu nhập. Nếu tiếp tục được đầu tư đồng bộ về hạ tầng, truyền thông và liên kết thị trường, Lai Châu sẽ trở thành điểm đến nông nghiệp – du lịch nổi bật của Tây Bắc.

  • Hòa Bình tiên phong với mô hình nuôi lợn hữu cơ dưới tán rừng – Bước tiến mới trong chăn nuôi bền vững

    Hòa Bình tiên phong với mô hình nuôi lợn hữu cơ dưới tán rừng – Bước tiến mới trong chăn nuôi bền vững

    Chăn nuôi lợn là ngành quan trọng tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, nhưng mô hình chăn nuôi công nghiệp truyền thống đang gặp nhiều khó khăn về dịch bệnh, chi phí thức ăn và ô nhiễm môi trường. Tại Hòa Bình, một số hợp tác xã đã mạnh dạn chuyển hướng sang mô hình nuôi lợn hữu cơ dưới tán rừng, đem lại hiệu quả bất ngờ và trở thành điểm sáng trong sản xuất nông nghiệp bền vững.Mô hình “lợn chạy bộ” được triển khai đầu tiên tại huyện Lạc Sơn và Đà Bắc. Khác với mô hình công nghiệp, lợn được nuôi bán hoang dã dưới tán rừng keo, lát hoa và xoan. Nguồn thức ăn đến từ rau rừng, củ quả địa phương, ngô xay thô và phụ phẩm nông nghiệp. Nhờ vận động nhiều, hàm lượng mỡ thấp và cơ thịt săn chắc, thịt lợn hữu cơ có hương vị đặc trưng, giá bán cao hơn thị trường từ 30 đến 50%.

    Một điểm mạnh của mô hình là khả năng giảm thiểu dịch bệnh. Môi trường thông thoáng và ít tiếp xúc với chất thải giúp lợn khỏe mạnh hơn. Người dân sử dụng đệm lót sinh học và chế phẩm vi sinh để xử lý môi trường, hạn chế mùi hôi và không gây ô nhiễm nguồn nước. Nhờ đó, tỷ lệ sống của lợn lên tới 95–98%, cao hơn từ 10 đến 15% so với chăn nuôi truyền thống.

    Các hợp tác xã còn chú trọng truy xuất nguồn gốc thông qua việc ghi chép nhật ký chăn nuôi, theo dõi từng lứa lợn và cập nhật các chỉ số sức khỏe định kỳ. Sản phẩm lợn hữu cơ từ Hòa Bình đang được phân phối tại các cửa hàng thực phẩm sạch ở Hà Nội và các thành phố lớn, mở ra cơ hội lớn cho người dân.

    Mô hình nuôi lợn hữu cơ dưới tán rừng mang lại lợi ích kép: nâng cao thu nhập và bảo vệ môi trường. Đây là hướng phát triển phù hợp cho các tỉnh miền núi có diện tích rừng lớn. Trong thời gian tới, nếu có thêm hỗ trợ về giống, kỹ thuật và thị trường tiêu thụ, mô hình này sẽ tiếp tục lan rộng và trở thành thương hiệu nông sản đặc trưng của Hòa Bình nói riêng và Tây Bắc nói chung.

  • Điện Biên đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng – Nâng tầm giá trị nông nghiệp miền núi

    Điện Biên đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng – Nâng tầm giá trị nông nghiệp miền núi

    Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt, nhiều vùng sản xuất truyền thống tại Điện Biên đang phải đối mặt với tình trạng đất bạc màu, thiếu nước sản xuất và năng suất thấp. Việc duy trì mô hình trồng lúa nước không còn phù hợp, đòi hỏi một hướng đi mới nhằm đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân. Trong những năm gần đây, chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã được triển khai mạnh mẽ tại huyện Mường Chà, Tuần Giáo và Điện Biên Đông, mang lại kết quả đáng khích lệ.Một trong những mô hình thành công nhất là chuyển đổi từ lúa sang ngô ngọt, đậu tương và rau màu theo mùa vụ. Với sự hỗ trợ từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh, người dân được cung cấp giống chất lượng cao, phân bón vi sinh, kỹ thuật tưới tiết kiệm và hướng dẫn quy trình chăm sóc. Nhờ đó, năng suất ngô ngọt đạt 16–18 tấn/ha, đậu tương đạt 1,8 tấn/ha — cao hơn 20–30% so với các mô hình cũ.

    Không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mô hình này còn giúp cải tạo đất thông qua luân canh cây trồng. Việc bổ sung phân hữu cơ và sử dụng chế phẩm sinh học giúp đất tơi xốp, giảm sâu bệnh và hạn chế xói mòn trên sườn đồi. Đặc biệt, nhiều hộ gia đình đã kết hợp trồng cây dược liệu như nghệ đen, đương quy để tăng thêm thu nhập và tạo thương hiệu nông sản địa phương.

    Một yếu tố quan trọng tạo nên thành công là sự tham gia của các doanh nghiệp thu mua nông sản. Các hợp tác xã liên kết với công ty chế biến nông sản đồ hộp tại Hà Nội và Hải Phòng đã ký hợp đồng bao tiêu ổn định, giúp người dân yên tâm sản xuất. Nhờ vậy, thu nhập trung bình mỗi vụ tăng từ 15 đến 30 triệu đồng, góp phần cải thiện đời sống đáng kể.Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại Điện Biên không chỉ giúp ổn định kinh tế hộ gia đình mà còn mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Mô hình này cần tiếp tục được nhân rộng và gắn với chế biến sâu, thương mại điện tử để nâng cao giá trị nông sản miền núi Tây Bắc.

  • Mô hình chăn nuôi gà bản địa ở Tây Bắc giúp tăng thu nhập cho người dân

    Mô hình chăn nuôi gà bản địa ở Tây Bắc giúp tăng thu nhập cho người dân

    Khu vực Tây Bắc từ lâu được biết đến với những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhưng lại rất phù hợp cho việc phát triển các giống vật nuôi bản địa. Trong những năm gần đây, mô hình chăn nuôi gà bản địa theo hướng bán chăn thả và an toàn sinh học đã trở thành một trong những điểm sáng trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Nhiều tỉnh như Sơn La, Yên Bái, Điện Biên ghi nhận mức tăng trưởng cao trong sản lượng và chất lượng sản phẩm gia cầm, đồng thời tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho hàng nghìn hộ nông dân.

    Gà bản địa vùng Tây Bắc như gà ri, gà mía, gà đen Mông, gà Hồ đang ngày càng được ưa chuộng trong thị trường nhờ chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc và giàu dinh dưỡng. Trước đây, người dân chủ yếu nuôi tự phát, quy mô nhỏ lẻ, không theo quy trình kiểm soát dịch bệnh nên hiệu quả kinh tế chưa cao. Từ năm 2022, nhiều hợp tác xã nông nghiệp tại huyện Phù Yên, Văn Chấn và Bắc Yên đã triển khai các mô hình sản xuất theo hướng an toàn sinh học và hữu cơ.

    Các mô hình này yêu cầu người dân phải đảm bảo quy trình chăn nuôi gồm: vệ sinh chuồng trại định kỳ, tiêm phòng đầy đủ, sử dụng đệm lót sinh học, bổ sung dinh dưỡng từ nguồn thức ăn địa phương như ngô, sắn, rau rừng. Phương pháp này vừa hạn chế mầm bệnh, vừa giúp giảm mùi hôi và lượng chất thải ra môi trường.

    Bên cạnh đó, do đặc thù địa hình đồi núi rộng, thoáng và nhiều sinh vật tự nhiên, mô hình bán chăn thả giúp gà vận động nhiều hơn, từ đó tạo ra chất lượng thịt vượt trội. Sản phẩm gà bản địa Tây Bắc đang được tiêu thụ mạnh tại Hà Nội, Hải Phòng và nhiều tỉnh đồng bằng, với giá cao hơn thị trường 20–30%. Một số vùng đã xây dựng được thương hiệu như “gà đồi Yên Bái”, “gà ri Sơn La”, góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho địa phương.

    Ngoài hiệu quả kinh tế, mô hình còn tạo sự gắn kết cộng đồng thông qua tổ nhóm chăn nuôi. Những buổi sinh hoạt cộng đồng, chia sẻ kinh nghiệm giúp người dân nắm rõ kỹ thuật, phòng bệnh và xử lý tình huống. Đặc biệt trong giai đoạn dịch cúm gia cầm diễn biến phức tạp, các nhóm chăn nuôi đã phát huy vai trò quan trọng trong việc giám sát dịch bệnh và hỗ trợ nhanh cho các hộ khó khăn.

    Chăn nuôi gà bản địa không chỉ mang lại lợi nhuận cho người dân mà còn tạo nên hướng đi bền vững trong phát triển nông nghiệp sạch của Tây Bắc. Trong tương lai, nếu tiếp tục đầu tư về giống, chuồng trại và kết nối tiêu thụ với hệ thống siêu thị, mô hình này sẽ trở thành trụ cột kinh tế cho nhiều vùng cao, góp phần xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống cộng đồng.