Blog

  • Tiếp tục đề xuất hàng chục nghìn tỷ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp

    Tiếp tục đề xuất hàng chục nghìn tỷ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp

    (Chinhphu.vn) – Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hiện Bộ Tài chính đang trình các cấp có thẩm quyền ban hành một số chính sách tài khóa trong thời gian tới, nhằm tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Số tiền đề xuất hỗ trợ lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng.

    Ban hành kịp thời nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

    Báo cáo tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2024 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương diễn ra ngày 6/7, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết, mặc dù 6 tháng đầu năm 2024, tình hình thế giới phát sinh nhiều khó khăn, nhưng nền kinh tế Việt Nam đã có sự hồi phục đáng kinh ngạc.

    Với chức năng, nhiệm vụ của mình, thời gian qua, Bộ Tài chính đã chủ động tham mưu, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách tài khóa, đặc biệt là các chính sách miễn giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí nhằm giúp người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện để nền kinh tế phục hồi, phát triển.

    Cụ thể, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành các chính sách giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất cho doanh nghiệp, người dân với quy mô khoảng 184,86 nghìn tỷ đồng (gồm giảm thuế, phí, lệ phí khoảng 92,3 nghìn tỷ đồng; gia hạn thuế và tiền thuê đất khoảng 92,56 nghìn tỷ đồng).

    Trong đó, giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng (như đã áp dụng năm 2023) đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% từ ngày 01/01/2024 đến hết ngày 30/6/2024. Dự kiến giảm thu NSNN năm 2024 khoảng 25 nghìn tỷ đồng.

    Tiếp đó tham mưu ban hành về chính sách giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% từ ngày 01/07/2024 đến hết ngày 31/12/2024. Dự kiến giảm thu NSNN năm 2024 khoảng 24 nghìn tỷ đồng.

    Ban hành hướng dẫn việc thực hiện giảm mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn trong năm 2024. Dự kiến sẽ giảm thu NSNN năm 2024 khoảng 42,5 nghìn tỷ đồng.

    Tham mưu Nghị định về gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2024, với quy mô dự kiến khoảng 84 nghìn tỷ đồng.

    Đóng góp ý kiến với Chính phủ ban hành Nghị định số 65/2024/NĐ-CP ngày 17/6/2024 của Chính phủ về gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước, với quy mô dự kiến khoảng 8,56 nghìn tỷ đồng.

    Ban hành Thông tư số 63/2023/TT-BTC ngày 16/10/2023 của Bộ Tài chính quy định giảm mức thu phí, lệ phí từ 10% đến 50% nhẩm khuyến khích sử dụng dịch vụ công trực tuyến (có hiệu lực từ 01/12/2023 và áp dụng đến hết năm 2025). Dự kiến sẽ giảm thu NSNN khoảng 100 tỷ đồng/năm.

    Và mới đây là ban hành Thông tư số 43/2023/TT-BTC ngày 28/6/2024 về giảm mức thu từ 10% đến 50% của 36 khoản phí, lệ phí so với quy định hiện hành, áp dụng từ ngày 01/7/2024 đến hết ngày 31/12/2024. Dự kiến sẽ giảm thu NSNN năm 2024 khoảng 700 tỷ đồng.

    Bộ trưởng Hồ Đức Phớc cho biết, những chính sách trên bước đầu cho kết quả thực hiện miễn, giảm thuế, phí, lệ phí trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 47,3 nghìn tỷ đồng.

    Để các chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2024 theo Nghị định 64/2024/NĐ-CP và chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước theo Nghị định 65/2024/NĐ-CP nhanh đi vào cuộc sống, cơ quan Thuế các cấp đã kịp thời tổ chức tuyên truyền sâu rộng nội dung chính sách gia hạn nộp tiền thuế, tiền thuê đất tới toàn thể người nộp thuế hiểu và nắm được chính sách hỗ trợ của Nhà nước ngay từ khi xây dựng dự thảo Nghị định về gia hạn tiền thuế, tiền thuê đất năm 2024 và triển khai hỗ trợ người nộp thuế ngay khi Nghị định được ban hành chính thức. Đến nay, cơ quan Thuế các cấp vẫn đang tiếp tục tiếp nhận, cập nhật giấy đề nghị gia hạn để thực hiện gia hạn tiền thuế gửi tiền thuê đất cho người nộp thuế.

    Tiếp tục đề xuất hỗ trợ hàng chục nghìn tỷ đồng

    Mặc dù thực hiện các chính sách giãn, giảm, gia hạn thuế, phí sẽ tác động tới nguồn thu ngân sách, nhưng Bộ Tài chính đã rà soát, đánh giá tổng kết các chính sách đã ban hành và trên cơ sở thực tiễn, Bộ tiếp tục trình các cấp có thẩm quyền ban hành một số chính sách tài khóa trong thời gian tới, nhằm tiếp tục hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.

    Trong nhóm các chính sách sẽ được ban hành thời gian tới, phải kể đến chính sách giảm thuế GTGT. Bộ Tài chính đề xuất kéo dài thời gian thực hiện giảm mức thuế GTGT đến hết năm 2024. Chính phủ đã trình Quốc hội tiếp tục kéo dài thời gian giảm 2% thuế suất thuế GTGT từ 1/7/2024 đến hết ngày 31/12/2024. Theo đó, dự kiến làm giảm NSNN thêm khoảng 24 nghìn tỷ đồng, tổng số giảm thu do thực hiện chính sách cả năm khoảng 47,5 nghìn tỷ đồng (bao gồm khoảng 23,5 nghìn tỷ đồng dự kiến giảm trong 6 tháng đầu năm).

    Để tiếp tục hỗ trợ cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp, người dân trong năm 2024 theo Nghị quyết số 44/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Tài chính dự kiến ban hành thông tư tiếp tục giảm mức thu đối với khoảng 36 khoản phí, lệ phí, áp dụng từ ngày 1/7/2024 đến hết ngày 31/12/2024, dự kiến tác động giảm thu NSNN khoảng 700 tỷ đồng.

    Về chính sách giảm thuế xuất, nhập khẩu, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài ngạch thuế quan. Dự kiến việc điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu này tác động giảm thu NSNN gần 590 tỷ đồng/năm.

    Có thể thấy, giai đoạn 2020-2023, các giải pháp chính sách tài chính để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh được ban hành với tổng trị giá của các giải pháp miễn, giảm, gia hạn các loại thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất lên đến khoảng 700 nghìn tỷ đồng. Quy mô dự kiến đối với những giải pháp ban hành và thực hiện từ đầu năm 2024 khoảng 68 nghìn tỷ đồng.

    Theo Bộ trưởng, mặc dù giảm thu NSNN liên quan đến việc miễn, giảm, hỗ trợ các loại thuế, phí, lệ phí nhưng không ảnh hưởng đến cân đối NSNN năm nay. Trong 5 tháng đầu năm, số thu ngân sách đạt 52,8% dự toán, tăng 14,8% so cùng kỳ năm 2023, trong khi tổng chi ngân sách đạt 31% dự toán, chỉ tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2023. Vì thế, trong nửa cuối năm nay, giả sử ngân sách có giảm thu do giảm thuế giá trị gia tăng và các chính sách miễn, giảm thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất được ban hành, tăng chi để đẩy nhanh đầu tư công, thì cân đối thu – chi ngân sách vẫn bảo đảm, nợ công, nợ chính phủ vẫn rất an toàn.

    Tuy nhiên, Bộ trưởng Tài chính cũng nhấn mạnh: “Mặc dù chúng ta thực hiện tốt các giải pháp miễn, giảm thuế, phí, lệ phí thì chúng ta vẫn phải kiểm soát chặt chẽ giá các mặt hàng thiết yếu, từ đó kiểm soát lạm phát, ngăn chặn việc tăng giá các mặt hàng thiết yếu một cách vô lý”.

  • Sẽ có các chính sách mới nâng cao năng lực tự chủ công nghệ an ninh mạng

    Sẽ có các chính sách mới nâng cao năng lực tự chủ công nghệ an ninh mạng

    (Chinhphu.vn) – Trong kỷ nguyên số, an ninh mạng không chỉ là yêu cầu bảo vệ mà còn là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ. Trong đó, việc hướng đến thiết lập một khung pháp lý hiện đại, đồng bộ để tăng cường khả năng phòng vệ quốc gia, đồng thời mở ra không gian phát triển rộng hơn cho doanh nghiệp công nghệ Việt Nam là rất quan trọng.

     Khuyến khích sử dụng sản phẩm an ninh mạng nội địa

    Hội thảo “Luật An ninh mạng 2025: Thúc đẩy năng lực tự chủ công nghệ” do Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia tổ chức ngày 17/11 nhằm tạo diễn đàn trao đổi giữa các cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và tổ chức xã hội về dự thảo Luật An ninh mạng 2025. Từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị, đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý.

    Đây cũng là dịp để cộng đồng an ninh mạng nhận diện các yêu cầu mới về năng lực tự chủ công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng cường hợp tác công – tư nhằm xây dựng một không gian mạng an toàn, tin cậy và phát triển bền vững.

    Tại hội thảo, từ góc nhìn của doanh nghiệp công nghệ trong lĩnh vực an ninh mạng, ông Nguyễn Minh Đức, Chủ nhiệm CLB Dịch vụ an ninh mạng, Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia, nhận định, dự thảo Luật An ninh mạng 2025 không chỉ là công cụ bảo vệ chủ quyền số mà còn là động lực kinh tế quan trọng cho doanh nghiệp an ninh mạng Việt Nam.

    Dự thảo khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân ưu tiên sử dụng sản phẩm và dịch vụ an ninh mạng do Việt Nam phát triển, qua đó xác lập công nghiệp an ninh mạng là lĩnh vực chiến lược và định hướng thị trường cho doanh nghiệp trong nước.

    Đồng thời, dự thảo cũng đề xuất quy định kinh phí dành cho bảo vệ an ninh mạng tại các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị phải đạt tối thiểu 10% tổng kinh phí của các đề án, dự án công nghệ thông tin, góp phần hình thành thị trường ổn định và thúc đẩy chuyển đổi số an toàn.

    Bên cạnh đó, dự thảo cũng tạo điều kiện khuyến khích nghiên cứu, phát triển (R&D), nâng cao năng lực tự chủ từ sản xuất sản phẩm, giải pháp đến cung cấp dịch vụ, hướng tới xây dựng cộng đồng an ninh mạng Việt Nam lớn mạnh, sáng tạo và tự chủ hơn.

    Ở góc độ cơ quan quản lý, Thượng tá Nguyễn Đình Đỗ Thi, Phó Trưởng phòng An ninh thông tin mạng, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an nhấn mạnh, hiện nay, sự lệ thuộc vào công nghệ nước ngoài là 1 trong 3 nhóm nguy cơ, thách thức trực tiếp, tác động đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

    Nhằm nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và nâng cao khả năng sản xuất, kiểm tra, đánh giá, kiểm định thiết bị số, dịch vụ mạng, ứng dụng mạng.

    Thời gian qua, Bộ Công an – cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật An ninh mạng đã chủ động, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án Luật An ninh mạng 2025 trình Quốc hội. Dự thảo Luật An ninh mạng được xây dựng trên cơ sở hợp nhất hai luật hiện hành là Luật An ninh mạng 2018 và Luật An toàn thông tin mạng 2015.

    Việc hợp nhất này bảo đảm không thay đổi chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành, không phát sinh chính sách mới, thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 18 của Trung ương về phân công, phân cấp rõ ràng, tránh chồng chéo trong quản lý.

    Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo Luật An ninh mạng 2025 là bổ sung quy định về việc khuyến khích cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng sản phẩm an ninh mạng nội địa, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng của Việt Nam.

    Bàn giải pháp năng cao năng lực tự chủ an ninh mạng

    Rõ ràng, việc nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng là một yêu cầu cấp thiết, không chỉ bảo vệ an toàn cho các cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia mà còn bảo vệ quyền lợi của người dân, duy trì sự ổn định xã hội và phát triển kinh tế bền vững, nâng cao niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước

    Tuy nhiên, việc nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng tại Việt Nam là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của Chính phủ, các doanh nghiệp, các tổ chức giáo dục và cộng đồng.

    Chia sẻ thông tin tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Ái Việt, Viện trưởng Viện Công nghệ và giáo dục Trí tuệ mới tạo sinh đưa ra nhận định, về lâu dài, các sản phẩm tự chủ hết sức quan trọng. Bên cạnh việc tăng đầu tư, đào tạo nâng cao nhận thức an ninh mạng cho lãnh đạo các tập đoàn, công ty lớn, các tổ chức có dữ liệu nhạy cảm và đặc biệt là các ngân hàng, cần có chính sách bắt buộc các tổ chức có chính sách an ninh mạng bao gồm cả kiến trúc an ninh mạng.

    Tin tưởng dự thảo Luật An ninh mạng được ban hành sẽ tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo vệ dữ liệu, tài sản số và chủ quyền số quốc gia, thúc đẩy ngành công nghiệp an ninh mạng Việt Nam phát triển theo hướng chuẩn hóa và chuyên nghiệp, ông Trần Quốc Chính, Phó Chủ tịch Tập đoàn CMC, Tổng Giám đốc CMC Cyber Security đề xuất cần sớm ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và bộ tiêu chí đánh giá – xếp hạng an ninh mạng quốc gia.

    Đồng thời, các cơ quan quản lý cần song song ban hành các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho từng nhóm sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. Điều này tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thử nghiệm, chứng nhận hợp chuẩn/hợp quy, hoạt động kiểm định, thẩm định hệ thống trước khi đưa vào vận hành.

    Nhiều ý kiến được chia sẻ tại hội thảo đã thể hiện đa chiều góc nhìn giá trị từ cơ quan quản lý, chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp. Các đại biểu cho rằng, trong kỷ nguyên số, an ninh mạng không chỉ là yêu cầu bảo vệ, mà còn là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ.

    Những phân tích tại hội thảo cũng hướng đến việc thiết lập một khung pháp lý hiện đại, đồng bộ để tăng cường khả năng phòng vệ quốc gia, đồng thời mở ra không gian phát triển rộng hơn cho doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.

  • Đòn bẩy chính sách mới thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ bứt phá

    Đòn bẩy chính sách mới thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ bứt phá

    (Chinhphu.vn) – Việc Chính phủ ban hành Nghị định 205/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định 111/2015/NĐ-CP về phát triển CNHT được đánh giá là bước đột phá, tạo cú hích mạnh mẽ thu hút đầu tư và thúc đẩy doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

    Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) được xem là “xương sống” của nền công nghiệp quốc gia, là nền tảng giúp giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, tăng giá trị gia tăng trong sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, sau gần một thập kỷ kể từ khi Nghị định 111/2015/NĐ-CP ra đời, lĩnh vực này vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Việc Chính phủ ban hành Nghị định 205/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định 111/2015/NĐ-CP về phát triển CNHT được đánh giá là bước đột phá, tạo cú hích mạnh mẽ thu hút đầu tư và thúc đẩy doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

    Tác động của Nghị định 205 đến bức tranh thu hút đầu tư vào CNHT ở nước ta đã được đưa ra thảo luận tại Tọa đàm “Thu hút đầu tư vào CNHT: Đòn bẩy từ chính sách” do Tạp chí Công Thương tổ chức sáng 13/10.

    Cơ hội từ chính sách mới

    Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) Phạm Văn Quân cho biết, 9 tháng đầu năm 2025, Việt Nam đạt kỷ lục xuất nhập khẩu hơn 681 tỷ USD, song có tới 94% giá trị nhập khẩu là nguyên liệu, linh kiện, những sản phẩm hoàn toàn có thể sản xuất trong nước nếu CNHT phát triển mạnh. Hiện vốn FDI đầu tư vào CNHT mới chỉ khoảng 20 tỷ USD, còn doanh nghiệp nội đạt 5-6 tỷ USD, con số này còn khiêm tốn so với nhu cầu.

    Nguyên nhân, theo ông Quân, đến từ hai yếu tố: Thiếu vốn và thiếu công nghệ. Đầu tư vào CNHT đòi hỏi chi phí lớn, trong khi doanh nghiệp trong nước quy mô nhỏ, khó tiếp cận tín dụng và công nghệ tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI cũng chưa thực sự mở cửa để doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng do yêu cầu khắt khe về kỹ thuật và tiêu chuẩn quốc tế. Chính vì vậy, Nghị định 205 đã được thiết kế theo hướng buộc doanh nghiệp FDI khi tham gia chương trình hỗ trợ phải có liên kết hợp đồng với ít nhất một doanh nghiệp Việt, nhằm tạo “đường dẫn” để doanh nghiệp nội bước vào chuỗi.

    Đáng chú ý, Nghị định 205 còn mở rộng phạm vi hỗ trợ, từ nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao công nghệ đến hỗ trợ thị trường và ưu đãi thuế. Các doanh nghiệp tham gia CNHT được ưu đãi lãi suất vay thấp hơn 3% so với vay thương mại, đồng thời được hỗ trợ chi phí R&D và sản xuất thử nghiệm tại các trung tâm phát triển công nghiệp do Bộ Công Thương đầu tư.

    “Mục tiêu là giúp doanh nghiệp vượt qua rào cản về vốn, công nghệ và đầu ra”, ông Quân khẳng định.

    Là một trong những “điểm sáng” của CNHT, tỉnh Bắc Ninh đã triển khai nhiều cơ chế đồng hành cùng doanh nghiệp. Phó Giám đốc Sở Công Thương Bắc Ninh Hoàng Anh Tuấn cho biết, tỉnh đã ký kết hợp tác ba bên giữa Bộ Công Thương, UBND tỉnh và Samsung Electronics Việt Nam để tư vấn cải tiến sản xuất cho doanh nghiệp CNHT trong giai đoạn 2020-2025. Chương trình tập trung vào ba nội dung: Nâng cao năng lực quản trị, cải thiện quy trình sản xuất và ứng dụng chuyển đổi số, giúp doanh nghiệp tiếp cận chuẩn sản xuất hiện đại.

    Bắc Ninh cũng tiên phong triển khai cơ chế “Luồng xanh 24h”, “Luồng xanh 60%” để xử lý nhanh thủ tục hành chính cho các dự án đầu tư công nghiệp, song song với phát triển hạ tầng giao thông, cụm công nghiệp và khu chuyên ngành. “Chúng tôi coi sự thịnh vượng của doanh nghiệp chính là thịnh vượng của địa phương”, ông Tuấn nhấn mạnh.

    Để tận dụng hiệu quả Nghị định 205, Bắc Ninh đang lên kế hoạch hình thành các khu CNHT chuyên biệt, tạo cụm liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, chế tạo và doanh nghiệp đầu ra, giảm chi phí vận chuyển và tối ưu chuỗi giá trị. Tỉnh cũng kiến nghị Bộ Công Thương sớm ban hành kế hoạch quốc gia về phát triển CNHT, trong đó giao nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương, giúp phân định rõ trách nhiệm, sản phẩm trọng điểm và thị trường mục tiêu.

    Từ góc độ doanh nghiệp, ông Hồ Ngọc Toàn, Phó Tổng Giám đốc Công ty Automech chia sẻ rằng, doanh nghiệp Việt đang có ba lợi thế lớn: Khả năng chuyển đổi sản xuất linh hoạt, đội ngũ kỹ sư trẻ, nhanh nhạy với công nghệ và thị trường trong nước tăng trưởng mạnh với nhiều tập đoàn đầu tư. Tuy nhiên, thách thức vẫn không nhỏ khi quy mô nhỏ, vốn hạn chế, công nghệ cũ và thiếu các tiêu chuẩn quốc tế.

    “Đầu tư vào CNHT cần tầm nhìn dài hạn và sự đồng hành của chính sách. Một nhà máy 2 ha cần ít nhất 200 tỷ đồng, nhưng doanh nghiệp nội khó vay được vốn ưu đãi. Bên cạnh đó, việc đạt được các tiêu chuẩn như IATF 16949 trong ngành ô tô phải mất 2 năm trở lên, đòi hỏi sự hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo chuyên sâu”, ông Toàn nêu ví dụ.

    Thể chế: Lợi thế cạnh tranh mới của Việt Nam

    Theo ông Phạm Văn Quân, Việt Nam đang chuyển từ lợi thế “lao động rẻ” sang lợi thế thể chế và chính sách linh hoạt. Trong vòng một năm qua, nhiều nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đã tháo gỡ điểm nghẽn trong quản lý và mở rộng không gian phát triển kinh tế tư nhân. Bộ Công Thương hiện đang xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm và đề xuất Quỹ phát triển công nghiệp quy mô khoảng 1% GDP nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn mà không cần thế chấp tài sản.

    “Nhà nước sẵn sàng chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp, bởi phát triển công nghiệp nền tảng sẽ mang lại lợi ích lớn hơn nhiều so với chi phí đầu tư ban đầu. Doanh nghiệp giàu lên thì đất nước mới mạnh”, ông Quân nhấn mạnh.

    Dù vậy, ông cũng thừa nhận, chính sách vẫn còn “độ trễ” nhất định khi nhiều doanh nghiệp chưa chủ động tiếp cận các ưu đãi. Bộ Công Thương đã thành lập Trung tâm Hỗ trợ phát triển công nghiệp tại Hà Nội để tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp tham gia chương trình CNHT, song cần sự phối hợp tích cực hơn từ địa phương và hiệp hội để lan tỏa thông tin.

  • Hoàn thiện hành lang pháp lý về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo

    Hoàn thiện hành lang pháp lý về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo

    (Chinhphu.vn) – Bộ Khoa học và Công nghệ đang dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng, mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.

    Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, thời gian qua, hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả do một số tồn tại, hạn chế. Yêu cầu thực tế đòi hỏi cần có cơ chế, chính sách cụ thể, đồng bộ để thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.

    Mục đích xây dựng dự thảo Nghị định nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; doanh nghiệp khoa học và công nghệ; phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo lấy doanh nghiệp làm trung tâm; hạ tầng, mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo.

    Đồng thời, hoàn thiện hành lang pháp lý về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo; đồng bộ, thống nhất với các văn bản pháp luật hiện hành, tạo sự thuận lợi trong tổ chức thực thi.

    Quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; doanh nghiệp khoa học và công nghệ; hạ tầng, mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trong việc: (i) Định danh và phân loại các loại nhiệm vụ đổi mới sáng tạo, chương trình đổi mới sáng tạo, hoạt động đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; (ii) Khuyến khích và thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; (iii) Quy định tiêu chí xác định, công nhận tổ chức, cá nhân đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ; (iv) Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo; hoàn thiện hạ tầng, mạng lưới; (v) Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước rõ ràng về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo.

    Tiêu chí xác định và công nhận tổ chức, cá nhân đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo

    Nhằm cụ thể hóa quy định tại Điều 47 và Điều 57 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, dự thảo Nghị định đã quy định tiêu chí xác định và công nhận tổ chức, cá nhân đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo, gồm:

    Quy định về tiêu chí xác định trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia; tiêu chí xác định trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; tiêu chí xác định trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh; tiêu chí xác định trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp quốc gia; tiêu chí xác định cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; tiêu chí xác định chuyên gia hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; tiêu chí xác định nhà đầu tư cá nhân khởi nghiệp sáng tạo.

    Quy định về công nhận tổ chức, cá nhân đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo: Nguyên tắc công nhận; Giấy công nhận và cơ quan có thẩm quyền công nhận; Thẩm quyền công nhận; Hội đồng tư vấn thẩm định hồ sơ yêu cầu công nhận tổ chức, cá nhân đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo; Hồ sơ, trình tự thủ tục công nhận: Trung tâm đổi mới sáng tạo, Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp quốc gia, Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh, cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, chuyên gia hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, nhà đầu tư cá nhân khởi nghiệp sáng tạo; Gia hạn Giấy công nhận; Cấp lại Giấy công nhận; Chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực Giấy công nhận; Kinh phí cho việc thẩm định hồ sơ để cấp,cấp lại, chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực Giấy công nhận.

    Thúc đẩy số lượng và chất lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ

    Thực tiễn triển khai Nghị định số 13/2019/NĐ-CP cho thấy còn nhiều khoảng trống pháp lý, cụ thể: tiêu chí áp dụng chỉ dựa vào doanh thu từ sản phẩm khoa học và công nghệ, chưa phân loại theo quy mô doanh nghiệp, chưa có các tiêu chí rõ ràng phản ánh năng lực R&D (nghiên cứu và phát triển) của doanh nghiệp bao gồm cả đổi mới sáng tạo.

    Mặc dù đã có chế tài của việc không báo cáo nhưng tỷ lệ doanh nghiệp báo cáo định kỳ còn thấp, thông tin thiếu thống nhất; hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp chưa được quy định. Các chính sách ưu đãi tuy đã ban hành nhưng chưa đủ mạnh và thiếu thủ tục hướng dẫn để doanh nghiệp tiếp cận, như chính sách ưu đãi tín dụng đầu tư, miễn tiền thuê đất.

    Vì vậy, việc ban hành các quy định mới về doanh nghiệp khoa học và công nghệ là cần thiết nhằm thể chế hóa đầy đủ các quy định mới của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, đồng thời khắc phục tình trạng thiếu đồng bộ, phân mảnh trong quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Quy định này sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ, bảo đảm minh bạch, khả thi, phù hợp với yêu cầu thực tiễn; đơn giản hóa thủ tục, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý; đồng thời phân cấp triệt để cho địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả chính sách, thúc đẩy số lượng và chất lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

    Nhằm cụ thể hóa quy định tại Điều 39 Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, dự thảo Nghị định đã rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổng hợp các chính sách ưu đãi hỗ trợ dành cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ, gồm: Quy định về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

    Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính là cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ, thẩm định và cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, cấp thay đổi nội dung, cấp lại, thu hồi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ; quy định cụ thể các điều kiện để cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ; hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ; quy định về hồ sơ, quy trình cấp, thay đổi nội dung, cấp lại, thu hồi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ; quy định về chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

    Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến đối với dự thảo này trên Cổng TTĐT của Bộ.

  • Những quy định cơ bản về pháp luật lao động mà người lao động nên biết?

    Những quy định cơ bản về pháp luật lao động mà người lao động nên biết?

    Quy định về hợp đồng lao động?

    Một số quy định cơ bản về hợp đồng lao động theo pháp luật lao động hiện nay gồm:

    [1] Các loại hợp đồng lao động:

    Theo Điều 20 Bộ luật Lao động 2019 quy định về loại hợp đồng lao động như sau:

    – Hợp đồng lao động xác định thời hạn

    – Hợp đồng lao động không xác định thời hạn

    Bên cạnh đó, có một số quy định cụ thể như sau:

    – Hợp đồng xác định thời hạn chỉ được tái ký 01 lần, sau khi hết thời hạn đối với hợp đồng xác định thời hạn đã tái ký 01 lần mà muốn ký tiếp hợp đồng lao động thì phải ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn

    – Thời hạn để tái ký hợp đồng lao động xác định thời hạn là 30 ngày, nếu quá thời hạn mà 02 bên chưa tái ký hợp đồng thì hợp đồng lao động cũ sẽ trở thành hợp đồng không xác định thời hạn

    [2] Chấm dứt hợp đồng lao động:

    – Có 13 trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định pháp luật tại Điều 34 Bộ luật Lao động 2019

    – Thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

    + Đối với trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng (Điều 35 Bộ luật Lao động 2019):

    Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

    Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

    Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

    + Đối với trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng (Điều 36 Bộ luật Lao động 2019):

    Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

    Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

    Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với người lao động bị ốm đau thuộc trường hợp người sử dụng lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

    Quy định về bảo hiểm xã hội?

    [1] Mức đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc:

    – Bảo hiểm xã hội:

    8% đối với người lao động (Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội 2014)

    17.5% đối với người sử dụng lao động (Điều 86 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Điều 4 Nghị định 58/2020/NĐ-CP)

    – Bảo hiểm y tế: (Điều 18 Quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017 được bổ sung bởi khoản 25 Điều 1 Quyết định 505/QĐ-BHXH năm 2020)

    1.5% đối với người lao động

    3% đối với người sử dụng lao động

    – Bảo hiểm thất nghiệp: (Điều 14 Quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017)

    1% đối với người lao động

    1% đối với người sử dụng lao động

    [2] Các chế độ của bảo hiểm xã hội mà người lao động được hưởng:

    Bảo hiểm xã hội bắt buộc có các chế độ sau đây:

    + Ốm đau;

    + Thai sản;

    + Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

    + Hưu trí;

    + Tử tuất.

    Bảo hiểm xã hội tự nguyện có các chế độ sau đây:

    + Hưu trí;

    + Tử tuất.

    Quy định về thời gian nghỉ của người lao động?

    Pháp luật lao động hiện nay có một số quy định cơ bản về thời gian nghỉ của người lao động như sau:

    [1] Nghỉ phép năm: (Điều 113 Bộ luật Lao động 2019)

    Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

    – 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

    – 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;

    – 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

    Cứ đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động được tăng thêm tương ứng 01 ngày.

    [2] Nghỉ hằng tuần: (Điều 111 Bộ luật Lao động 2019)

    Bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày.

    [3] Nghỉ việc riêng hưởng nguyên lương: (Điều 115 Bộ luật Lao động 2019)

    – Kết hôn: nghỉ 03 ngày;

    – Con đẻ, con nuôi kết hôn: nghỉ 01 ngày;

    – Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi chết: nghỉ 03 ngày.

    Trân trọng!

  • Đề xuất chính sách hỗ trợ đối với các tổ chức kinh tế hợp tác? Điều kiện, nội dung chính sách hỗ trợ là gì?

    Đề xuất chính sách hỗ trợ đối với các tổ chức kinh tế hợp tác? Điều kiện, nội dung chính sách hỗ trợ là gì?

    Nguyên tắc thực hiện chính sách hỗ trợ đối với các tổ chức kinh tế hợp tác được đề xuất ra sao?

    Nguyên tắc thực hiện chính sách hỗ trợ đối với các tổ chức kinh tế hợp tác được đề xuất tại Điều 111 Dự thảo 2 Luật Các tổ chức kinh tế hợp tác như sau:

    – Tôn trọng quy luật thị trường, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    – Bảo đảm công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ tục, nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện.

    – Các chính sách hỗ trợ các tổ chức kinh tế hợp tác được thống nhất triển khai theo Chương trình mục tiêu quốc gia hỗ trợ, phát triển các tổ chức kinh tế hợp tác.

    – Hoạt động hỗ trợ phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực của Nhà nước ở từng thời kỳ.

    – Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với tổ chức kinh tế hợp tác không thấp hơn chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

    – Trường hợp tổ chức kinh tế hợp tác đồng thời đáp ứng điều kiện của các mức hỗ trợ khác nhau trong cùng một nội dung hỗ trợ theo quy định của Dự thảo này và quy định khác của pháp luật có liên quan thì tổ chức kinh tế hợp tác chỉ được lựa chọn một mức hỗ trợ có lợi nhất.

    – Nguồn lực ngoài Nhà nước do các tổ chức, cá nhân tài trợ được thực hiện theo quy định của tổ chức, cá nhân đó nhưng không được trái quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam.

    Tổ chức kinh tế hợp tác để được nhận chính sách hỗ trợ cần có những điều kiện nào?

    Tổ chức kinh tế hợp tác được nhận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước khi đáp ứng các tiêu chí đề xuất tại Điều 112 Dự thảo 2 Luật Các tổ chức kinh tế hợp tác sau:

    – Tuân thủ pháp luật, Điều lệ đối với tổ chức kinh tế hợp tác có tư cách pháp nhân hoặc hợp đồng hợp tác đối với tổ hợp tác;

    – Có báo cáo kiểm toán không quá 12 tháng thời điểm đề xuất hỗ trợ;

    – Có giấy chứng nhận đăng ký tổ chức kinh tế hợp tác;

    – Đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí sau: phát triển số lượng thành viên; doanh thu của giao dịch nội bộ tăng lên; trích lập quỹ chung không chia hoặc phát triển tài sản chung không chia; thường xuyên giáo dục đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên, người lao động; tổ chức hoặc tham gia các hoạt động lợi ích cộng đồng dân cư.

    Ưu tiên cho tổ chức kinh tế hợp tác có nhiều thành viên hơn; có nhiều thành viên là người khuyết tật hơn; có nhiều thành viên là đồng bào dân tộc thiểu số hơn; có phụ nữ làm quản lý, có nhiều thành viên là nữ hoặc sử dụng nhiều lao động nữ hơn; hoạt động thuộc địa bàn kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn theo quy định của Nhà nước; có mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

    Nội dung chính sách hỗ trợ đối với các tổ chức kinh tế hợp tác là gì?

    Nội dung chính sách hỗ trợ đối với các tổ chức kinh tế hợp tác được đề xuất tại Điều 114 Dự thảo 2 Luật Các tổ chức kinh tế hợp tác, bao gồm;

    (1) Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, thông tin, tư vấn:

    – Giáo dục đào tạo chuyên sâu hoặc bồi dưỡng, cập nhật kiến thức quản lý, kỹ thuật, kế toán, kiểm toán cho cán bộ, lao động làm việc trong các tổ chức kinh tế hợp tác và cán bộ quản lý nhà nước và tư vấn viên trong lĩnh vực kinh tế tập thể;

    – Xây dựng, triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng có cấp chứng chỉ về năng lực cho các đối tượng tham gia các hoạt động tư vấn, kiểm toán, quản lý, điều hành của các tổ chức kinh tế hợp tác;

    – Hỗ trợ lương, thưởng và phúc lợi cho người lao động có chất lượng cao làm việc tại các tổ chức kinh tế hợp tác.

    – Xây dựng và triển khai các chương trình truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức trực tiếp để nâng cao nhận thức, kiến thức quản trị và sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế hợp tác.

    – Người dân, các tổ chức kinh tế hợp tác được hỗ trợ thông tin, tư vấn về thủ tục thành lập mới, chuyển đổi từ tổ hợp tác sang hợp tác xã.

    – Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể, liên đoàn hợp tác xã, liên minh hợp tác xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xây dựng mạng lưới tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn cho các tổ chức kinh tế hợp tác.

    (2) Hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:

    – Hỗ trợ tổ chức kinh tế hợp tác đổi mới sáng tạo, xây dựng các mô hình kinh tế tuần hoàn, nghiên cứu, thay đổi công nghệ, tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện, làm chủ công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, tìm kiếm, giải mã, chuyển giao công nghệ; xác lập, khai thác, quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ;

    – Hỗ trợ các tổ chức kinh tế hợp tác chuyển đổi số trong sản xuất, quản trị sản xuất và lưu thông sản phẩm thông qua xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin, cung cấp thiết bị đầu cuối và các phần mềm, ứng dụng dùng chung.

    – Hỗ trợ xây dựng trang thông tin điện tử cho tổ chức kinh tế hợp tác và kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về tổ chức kinh tế hợp tác.

    (3) Hỗ trợ xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, đầu tư:

    – Hỗ trợ các tổ chức kinh tế hợp tác xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa; hỗ trợ tham gia các triển lãm trong và ngoài nước; tổ chức các hội chợ, triển lãm dành riêng cho các tổ chức kinh tế hợp tác; xây dựng, triển khai cổng thông tin điện tử, sàn giao dịch thương mại điện tử hoặc hỗ trợ chi phí tham gia các sàn giao dịch điện tử có sẵn.

    – Các tổ chức kinh tế hợp tác được ưu tiên, hỗ trợ tham gia các hoạt động xúc tiến đầu tư của các bộ, ngành, địa phương khi có nhu cầu phù hợp.

    (4) Hỗ trợ tín dụng, bảo hiểm:

    – Các tổ chức kinh tế hợp tác được vay vốn từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác với lãi suất ưu đãi. Ngân sách nhà nước (trung ương và địa phương) cấp bù chênh lệch lãi suất có thời hạn thông qua các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác.

    – Các tổ chức kinh tế hợp tác được hỗ trợ cho vay ưu đãi, vay không cần tài sản bảo đảm từ Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã và các tổ chức tín dụng theo quy định.

    – Hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp cho các tổ chức kinh tế hợp tác.

    (5) Hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất:

    – Tổ chức kinh tế hợp tác được Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét cho thuê mặt bằng, quỹ đất công ích với giá ưu đãi để xây dựng các công trình: trụ sở, nhà kho, cửa hàng mua bán, trưng bày, giới thiệu sản phẩm.

    – Tổ chức kinh tế hợp tác thuê, thuê lại đất, mặt nước của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức thì được Nhà nước hỗ trợ tiền thuê đất, thuê mặt nước 05 năm đầu tiên kể từ khi dự án hoàn thành đi vào hoạt động. Tiền thuê đất, thuê mặt nước được xác định theo giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định, tính tại thời điểm tổ chức kinh tế hợp tác ký hợp đồng thuê.

    – Tổ chức kinh tế hợp tác nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hoặc thuê quyền sử dụng đất, mặt nước của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức để hình thành vùng nguyên liệu sản xuất, chế biến nông sản được Nhà nước hỗ trợ chi phí xây dựng kết cấu hạ tầng vùng nguyên liệu.

    – Tổ chức kinh tế hợp tác được Nhà nước tạo điều kiện bảo đảm về quỹ đất trong chu kỳ thực hiện dự án, trừ trường hợp phải thu hồi hoặc các trường hợp phải điều chỉnh kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất theo quy định tại Luật Đất đai.

    (6) Ưu đãi thuế, phí và lệ phí:

    – Các tổ chức kinh tế hợp tác được hưởng mức ưu đãi thuế, phí và lệ phí cao nhất so với các đối tượng khác.

    – Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thặng dư từ giao dịch bên trong của tổ chức kinh tế hợp tác có tư cách pháp nhân.

    – Miễn, giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu đối với tổ chức kinh tế hợp tác, thành viên chính thức của tổ chức kinh tế hợp tác khi tham gia liên kết với cá nhân, pháp nhân khác hình thành các chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn vì mục tiêu phát triển bền vững.

    – Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.

    (7) Hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng, trang thiết bị:

    Hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, trang thiết bị cho các tổ chức kinh tế hợp tác bao gồm: trụ sở, sân phơi, nhà kho, xưởng sơ chế, chế biến, điện, nước sinh hoạt, chợ, công trình thủy lợi, cơ sở hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản, cửa hàng vật tư nông nghiệp, trung tâm giới thiệu sản phẩm; giao thông nội đồng phục vụ sản xuất, kinh doanh cho cộng đồng thành viên; hạng mục xử lý chất thải; nhà ở cho thành viên là cá nhân và người lao động.

    (8) Hỗ trợ về kiểm toán:

    – Nhà nước có chính sách hỗ trợ chi phí kiểm toán cho các đối tượng phải kiểm toán theo quy định Điều 96 Luật này. Thời gian hỗ trợ cho mỗi tổ chức kinh tế hợp tác có tư cách pháp nhân không quá 05 năm.

    – Nhà nước có chính sách hỗ trợ Liên minh hợp tác xã, Liên đoàn hợp tác xã về chi phí tư vấn, hỗ trợ xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ cho các tổ chức kinh tế hợp tác có tư cách pháp nhân quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Thời gian hỗ trợ cho Liên minh hợp tác xã, Liên đoàn hợp tác xã không quá 05 năm.

  • Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 12/2025

    Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 12/2025

    (Chinhphu.vn) – 3 trường hợp vi phạm bị đình chỉ thi công chức; tiêu chí xác định thôn, xã, tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số… là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 12/2025.

    Tiêu chí xác định thôn, xã, tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số

    Chính phủ ban hành Nghị định số 272/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 về phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.

    Trong đó, Nghị định quy định rõ tiêu chí xác định thôn, xã, tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số như sau:

    1. Thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số là thôn có từ 15% người dân tộc thiểu số trở lên sinh sống ổn định thành cộng đồng.

    2. Xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số là xã đáp ứng ít nhất 01 trong 02 tiêu chí sau đây:

    a) Có từ 15% người dân tộc thiểu số trở lên sinh sống ổn định;

    b) Có từ 4.500 người dân tộc thiểu số trở lên sinh sống ổn định.

    3. Tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số là tỉnh đáp ứng ít nhất 01 trong 02 tiêu chí sau đây:

    a) Có từ 15% người dân tộc thiểu số trở lên sinh sống ổn định;

    b) Có từ 2/3 số xã trở lên là xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Nghị định trên có hiệu lực từ ngày 1/12/2025.

    Nghị định về Quỹ giảm thiểu thiệt hại tai nạn giao thông đường bộ

    Chính phủ ban hành Nghị định số 279/2025/NĐ-CP ngày 23/10/2025 quy định về thành lập, nguồn tài chính hình thành, quản lý, hoạt động chi, sử dụng Quỹ giảm thiểu thiệt hại tai nạn giao thông đường bộ.

    Nghị định quy định Quỹ giảm thiểu thiệt hại tai nạn giao thông đường bộ là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách được Chính phủ thành lập theo quy định, do Bộ Công an quản lý, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và tại các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

    6 nội dung chi Quỹ gồm:

    1- Hỗ trợ cho nạn nhân bị thương do tai nạn giao thông đường bộ gây ra với tỷ lệ tổn thương trên 31% đến dưới 81%; gia đình có nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông đường bộ gây ra đang gặp khó khăn về kinh tế.

    2- Hỗ trợ hòa nhập cộng đồng và tiếp tục phát triển đối với các nạn nhân bị thương do tai nạn giao thông gây ra với tỷ lệ tổn thương trên 81%.

    3- Hỗ trợ cho tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia giúp đỡ, cứu chữa, đưa người bị tai nạn giao thông đường bộ đi cấp cứu.

    4- Hỗ trợ cho tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia các hoạt động tuyên truyền làm giảm thiểu thiệt hại tai nạn giao thông đường bộ mà không được Nhà nước bảo đảm kinh phí.

    5- Hỗ trợ cho công tác tuyên truyền tổ chức các hoạt động, sự kiện gây Quỹ.

    6- Hỗ trợ kinh phí giám định thương tật cho các nạn nhân bị thương trong vụ tai nạn giao thông đường bộ quy định tại khoản 1, khoản 2 nêu trên (trừ các trường hợp nạn nhân trong các vụ án, vụ việc hành chính có liên quan đến tai nạn giao thông đường bộ đang điều tra, giải quyết phải giám định theo quy định của pháp luật); chi văn phòng phẩm, in ấn tài liệu, vật tư văn phòng, chi cước phí bưu chính phục vụ cho các hoạt động của Quỹ.

    Nghị định trên có hiệu lực từ ngày 15/12/2025.

    Mức phạt mới trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình từ ngày 15/12/2025

    Chính phủ ban hành Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình.

    Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với cá nhân là 30 triệu đồng, đối với tổ chức là 60 triệu đồng.

    Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội đối với cá nhân là 40 triệu đồng, đối với tổ chức là 80 triệu đồng.

    Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội đối với cá nhân là 75 triệu đồng, đối với tổ chức là 150 triệu đồng.

    Vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước bị phạt tối đa tới 500 triệu đồng từ ngày 25/12/2025

    Chính phủ ban hành Nghị định số 290/2025/NĐ-CP ngày 6/11/2025 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.

    Nghị định này quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực tài nguyên nước.

    Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước là 250 triệu đồng đối với cá nhân và 500 triệu đồng đối với tổ chức.

    Nghị định này có hiệu lực từ ngày 25/12/2025.

    12 trường hợp được mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài từ 15/12/2025

    Ngày 31/10/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài của người cư trú là tổ chức tại Thông tư 39/2025/TT-NHNN, có hiệu lực từ 15/12/2025.

    Theo đó, có 12 trường hợp cụ thể tương ứng với 03 nhóm đối tượng được mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài như sau:

    * Nhóm tổ chức tín dụng gồm 04 trường hợp:

    1 – Thực hiện hoạt động ngoại hối ở nước ngoài theo Giấy phép của Ngân hàng Nhà nước, không phải xin phép lại.

    2 – Thực hiện khoản vay nước ngoài khi hợp đồng yêu cầu phải mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài.

    3 – Đáp ứng điều kiện xin cấp phép thành lập và hoạt động cho văn phòng đại diện, chi nhánh, ngân hàng 100% vốn ở nước ngoài.

    4 – Phục vụ hoạt động của văn phòng đại diện ở nước ngoài.

    * Nhóm tổ chức kinh tế gồm 05 trường hợp:

    5 – Đáp ứng điều kiện thành lập và hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài.

    6 – Phục vụ hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài.

    7 – Thực hiện khoản vay nước ngoài theo thỏa thuận với bên cho vay.

    8 – Doanh nghiệp thuộc diện đầu tư đặc biệt quan trọng hoặc dự án PPP thực hiện cam kết, thỏa thuận với bên nước ngoài.

    9 – Thực hiện các cam kết, thỏa thuận, hợp đồng với bên nước ngoài, gồm: hợp đồng thầu xây dựng, hợp đồng mua bán tàu hoặc các hợp đồng khác (khoản 5).

    * Nhóm tổ chức khác gồm 03 trường hợp:

    10 – Tiếp nhận viện trợ của nước ngoài.

    11 – Tiếp nhận tài trợ của nước ngoài.

    12 – Thực hiện các trường hợp khác được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép.

    3 trường hợp vi phạm bị đình chỉ thi công chức từ 10/12/2025

    Nội quy và Quy chế thi tuyển, xét tuyển công chức từ 10/12/2025 được Bộ Nội vụ nêu tại Thông tư 22/2025/TT-BNV ngày 19/10/2025. Trong đó, nêu rõ các trường hợp vi phạm bị đình chỉ gồm:

    – Đã bị xử lý bằng hình thức cảnh cáo mà tái phạm;

    – Sử dụng trong phòng thi: Các loại giấy tờ, tài liệu không theo yêu cầu của bài thi; điện thoại di động, máy ghi âm, máy ảnh, máy vi tính, các phương tiện kỹ thuật thu, phát truyền tin, phương tiện sao lưu dữ liệu, thiết bị chứa đựng, truyền tải thông tin khác, trừ trường hợp có quy định khác;

    – Gây mất an toàn, trật tự làm ảnh hưởng đến phòng thi.

    Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ từ 18/12/2025

    Thông tư 41/2025/TT-BYT ngày 3/11/2025 của Bộ Y tế quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ có hiệu lực từ 18/12/2025.

    Thông tư quy định bác sĩ có hạng chức danh nghề nghiệp hạng 3 và tiêu chuẩn như sau:

    – Về trình độ đào tạo:

    Tốt nghiệp bác sĩ Y khoa hoặc Răng – Hàm – Mặt; có giấy phép hành nghề khám, chữa bệnh hoặc chứng chỉ bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. Nếu tốt nghiệp cử nhân y khoa do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận trình độ đại học phải được cấp giấy phép (chứng chỉ) hành nghề khám bệnh, chữa bệnh hoặc được công nhận trình độ tương đương bác sĩ.

    – Về nhiệm vụ chủ yếu:

    Thực hiện khám, chữa bệnh, cấp cứu, hội chẩn chuyên môn theo phạm vi được giao; tư vấn, truyền thông, giáo dục sức khỏe cho người bệnh; quản lý, báo cáo sai sót kỹ thuật, cải tiến chất lượng khám chữa bệnh; tham gia đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiên cứu khoa học cấp cơ sở.

  • Doanh nghiệp Việt cần khai thác dữ liệu như một loại tài sản kinh tế

    Doanh nghiệp Việt cần khai thác dữ liệu như một loại tài sản kinh tế

    (Chinhphu.vn) – Trong kỷ nguyên số, dữ liệu đã vượt ra khỏi vai trò thuần túy của một nguồn thông tin kỹ thuật để trở thành nguồn lực sản xuất quan trọng, tương tự như vốn, lao động hay tài nguyên thiên nhiên. Đối với doanh nghiệp Việt, việc khai thác dữ liệu như một loại tài sản kinh tế chiến lược không chỉ giúp tối ưu hóa hoạt động nội bộ mà còn mở ra những cơ hội đổi mới mô hình kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

    Nhận thức này ngày càng được khẳng định rõ trong các chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước. Tại Diễn đàn quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số lần thứ III diễn ra sáng nay 20/12 tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh vai trò then chốt của kinh tế số và xã hội số trong giai đoạn phát triển tới, coi đây là động lực phát triển trọng yếu cho giai đoạn 2026-2030, hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.

    Phát biểu khai mạc diễn đàn, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh: “Kinh tế số là động lực, xã hội số là nền tảng, con người là trung tâm”, qua đó khẳng định dữ liệu không chỉ là yếu tố kỹ thuật mà đã trở thành thành tố không thể tách rời trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.

    Dữ liệu là tài sản chiến lược của thời đại số

    Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu dịch chuyển mạnh mẽ sang nền kinh tế số, dữ liệu ngày càng được coi là nguồn lực chiến lược cốt lõi. Các hệ thống dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích dữ liệu đang tạo ra một lớp giá trị mới cho doanh nghiệp, từ tối ưu hóa hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả quản trị, phân tích hành vi khách hàng đến dự báo xu hướng thị trường và quản trị rủi ro.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, kinh tế số không chỉ là một xu hướng công nghệ mà là “một trụ cột để đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”. Cách tiếp cận này cho thấy dữ liệu không còn là yếu tố phụ trợ, mà đã trở thành tài sản chiến lược, có khả năng quyết định sức cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp cũng như của cả nền kinh tế trong kỷ nguyên mới.

    Cùng quan điểm đó, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định, dữ liệu là “tài nguyên mới, tư liệu sản xuất mới của nền kinh tế số”, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phải khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu một cách hiệu quả để tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp và xã hội.

    Trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động, với cạnh tranh toàn cầu gay gắt và nhu cầu khách hàng thay đổi nhanh chóng, dữ liệu trở thành công cụ giúp doanh nghiệp chuyển từ phản ứng bị động sang chủ động dẫn dắt, từ quản lý dựa trên kinh nghiệm sang ra quyết định dựa trên phân tích và dự báo khoa học.

    Mặc dù tiềm năng của dữ liệu là rất lớn, song thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa coi dữ liệu là một loại tài sản kinh tế đúng nghĩa. Dữ liệu trong nhiều trường hợp vẫn chỉ được sử dụng để phục vụ báo cáo, thống kê hoặc số hóa quy trình hiện hữu, thay vì trở thành nền tảng cho đổi mới mô hình kinh doanh và tạo giá trị mới.

    Nguyên nhân chủ yếu đến từ hạn chế trong nhận thức chiến lược, khi không ít doanh nghiệp coi dữ liệu là “phần phụ” của hoạt động kinh doanh, chưa gắn dữ liệu với chiến lược phát triển dài hạn. Bên cạnh đó, việc thiếu hạ tầng dữ liệu đồng bộ, thiếu nhân lực có năng lực phân tích và quản trị dữ liệu chuyên sâu, cũng như khung khổ pháp lý về quản trị và chia sẻ dữ liệu đang trong quá trình hoàn thiện, đã tạo ra những rào cản nhất định cho doanh nghiệp trong quá trình đầu tư bài bản vào dữ liệu.

    Tuy nhiên, những tín hiệu tích cực đang ngày càng rõ nét. Việc Chính phủ xác định dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số là năng lực sản xuất mới, đồng thời nhấn mạnh mối liên kết giữa kinh tế số, xã hội số và phát triển con người, cho thấy dữ liệu đang được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia trong dài hạn.

    Con đường phía trước: Xây dựng dữ liệu thành tài sản kinh tế bền vững

    Để dữ liệu thực sự trở thành tài sản kinh tế, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi căn bản cách tiếp cận. Dữ liệu cần được đặt vào trung tâm chiến lược phát triển, được quản trị như một loại tài sản có giá trị, với các hệ thống thu thập, lưu trữ, bảo mật và phân tích đồng bộ, xuyên suốt toàn bộ hoạt động sản xuất – kinh doanh.

    Song song với đó là đầu tư cho nguồn nhân lực dữ liệu chất lượng cao, những người không chỉ làm chủ công nghệ mà còn có khả năng chuyển hóa dữ liệu thành tri thức và quyết định kinh doanh. Quan trọng hơn, doanh nghiệp không thể phát triển dữ liệu trong trạng thái “đơn lẻ”, mà cần tham gia sâu vào hệ sinh thái dữ liệu quốc gia, thông qua hợp tác với Nhà nước, các doanh nghiệp công nghệ, tổ chức nghiên cứu và cơ sở đào tạo, nhằm chia sẻ dữ liệu an toàn, chuẩn hóa và gia tăng giá trị dữ liệu đa nguồn.

    Đại diện Tập đoàn FPT cho rằng dữ liệu chính là nền tảng cốt lõi của kinh tế số và là “nhiên liệu” cho trí tuệ nhân tạo. Theo FPT, trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, doanh nghiệp chỉ có thể làm chủ AI, điện toán đám mây hay các dịch vụ số nếu trước hết làm chủ được dữ liệu của chính mình. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung, chuẩn hóa và có khả năng khai thác theo thời gian thực không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả vận hành, mà còn tạo điều kiện hình thành các sản phẩm, dịch vụ số mới có giá trị gia tăng cao.

    Từ kinh nghiệm triển khai các dự án chuyển đổi số cho doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, đại diện FPT nhấn mạnh rằng dữ liệu không nên bị “đóng khung” trong từng bộ phận, mà cần được kết nối xuyên suốt để trở thành tài sản chung phục vụ quản trị và ra quyết định chiến lược.

    Ở góc độ doanh nghiệp cung cấp nền tảng quản trị, đại diện Base.vn cho rằng dữ liệu chính là điểm khởi đầu của chuyển đổi số thực chất. Theo Base, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang gặp khó khăn trong quản trị do dữ liệu bị phân tán, thiếu chuẩn hóa và phụ thuộc nhiều vào con người. Khi dữ liệu được số hóa đầy đủ, kết nối liên thông giữa các phòng ban và được cập nhật theo thời gian thực, doanh nghiệp có thể giảm đáng kể độ trễ trong ra quyết định, tăng tính minh bạch và nâng cao kỷ luật vận hành.

    Base cho rằng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc coi dữ liệu là tài sản không nhất thiết phải bắt đầu từ những công nghệ phức tạp, mà trước hết là từ việc chuẩn hóa dữ liệu nội bộ, hình thành thói quen ra quyết định dựa trên dữ liệu thay vì kinh nghiệm cảm tính.

    Trong khi đó, từ thực tiễn của một tập đoàn đa ngành, Masan đã sử dụng dữ liệu, tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị, đã tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt. Việc phân tích dữ liệu tiêu dùng theo thời gian thực giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong dự báo nhu cầu, tối ưu tồn kho và logistics, đồng thời nâng cao khả năng cá nhân hóa sản phẩm, dịch vụ. Cách tiếp cận này cho phép Masan chuyển dịch từ mô hình quản lý truyền thống sang mô hình vận hành dựa trên dữ liệu và AI, qua đó gia tăng năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thị trường biến động nhanh.

    Ở góc nhìn toàn cầu, Công ty Schneider Electric Việt Nam theo định hướng cho rằng dữ liệu là nền tảng để doanh nghiệp không chỉ tăng trưởng hiệu quả mà còn phát triển bền vững. Khi dữ liệu được khai thác đúng cách, doanh nghiệp có thể tối ưu sử dụng năng lượng, giảm phát thải và hướng tới các mục tiêu tăng trưởng xanh, phù hợp với xu thế chung của kinh tế thế giới.

    Trong bối cảnh kinh tế số đang trở thành trụ cột chiến lược của Việt Nam, dữ liệu không còn là yếu tố phái sinh mà đã trở thành một loại tài sản kinh tế trọng yếu, quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp. Khai thác dữ liệu hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đứng vững trên thị trường trong nước mà còn mở rộng cơ hội vươn ra quốc tế, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển kinh tế số quốc gia.